Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

LOẠI HÌNH VĂN HÓA SA HUỲNH BIỂN ĐẢO VÙNG BIỂN PHÍA NAM VIỆT NAM

LOẠI HÌNH VĂN HÓA SA HUỲNH BIỂN ĐẢO VÙNG BIỂN PHÍA NAM VIỆT NAM
Vàng A Cử
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghiên cứu văn hóa khảo cổ biển đảo là một đề tài không còn mới, đã được định hình và phất triển từ khá sớm nhưng số lượng nghiên cứu chưa thật sự phong phú, chưa mổ sẻ, lộ tả hết các nền văn hóa, ý nghĩa của chúng trong thời đại và hiện nay.
Vùng biển phía Nam có vị trí chiến lược quan trọng về nhiều mặt như kinh tế - văn hóa –xã hội –an ninh quốc phòngđối với sự nghiệp đổi mới và bảo vệ tổ quốc. Hiện nay có một số vẫn đề đang gay tranh cãi về chủ quyền biển đảotrên Biển Đông giữa các quốc gia trong khu vược, qua báo cáo nghiên cứu này tôi cũng mong góp chút công sức  vào việc khả định mạnh mẽ hơn nữa chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển này.
Nghiên cứu các nền văn hóa trên các đảo và quần đảo thuộc vùng biển phía Nam Việt Nam cho đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố như các nghiên cứu của Nguyễn Trung Chiến, của GS Trần Quốc Vượng… Tuy nhiên các nghiên cứu trên chỉ chủ yếu chỉ tập chung đi vào tìm hiểu về khu vược phân bố, loạn hình, đặt các di tích vào nghiêu cứu tập chung với các nền văn hóa biển đảo ở phía Nam Biển Đông khác. Có rất ít các công trình nghiêu cứu độc lập về dấu tích của văn hóa Sa Huỳnh trên các  hải đảo mà chủ yếu chỉ tập chung vào một số nghiên cứu tổng thể chung chung. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này đã công bố trước đâycũng chưa chú tâm đi sâu vào phân tích vấn đề ở khía cạnh “ chủ nhân đầu tiên” của các đảo và quần đảo, ngoài ra cũng rất hiến các bài nghiên cứu đề cập về quá trình đi biển và chiếm lĩnh – làm chủ các vùng biển đảo rộng lớn ở phía Nam này của người Sa Huỳnh.
II.VÀI NÉT VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC HUYỆN ĐẢO VÙNG BIỂN PHÍA NAM VIỆT NAM
II.1. Biển Đông
Biển Đông là một biển lớn của Thái Bình Dương , có diện tích khoảng 3500 nghìn km2,  rộng hàng thứ hai thế giới chỉ sau biển San Hô ở phía đông Austrailia, rộng gấp 8 lần biển Đen và gấp khoảng 1,2 lần biển Địa Trung Hải. Phía Bắc đi qua điểm cực Bắc của Đài Loan và bờ biển tỉnh Phúc Kiến ( Trung Quốc ), cực Nam là một khối nâng nằm giữa các đảo Sumatrai và Kalimantan.  Ưóc tính Biển Đông có chiều dài khoảng 3.100km, chiều rộng khoảng 1.100km, độ sâu trung bình khoảng 1.140m, tổng lượng nước ước tính khoảng 3.928 tỷ km2.
Ngay từ thời sơn khai, cư dân của các nền văn hóa phân bố trên đất liền đã chinh phục biển Đông, khai thác các nguồn lợi từ biển như nguồn lợi thủy sản, muối, các nguồn lợi trên các hải đảo, quần đảo.
II.2. Các huyện đảo phía Nam Việt Nam
II.2.1. Huyện đảo Phú Qúy tỉnh Bình Thuật.
Huyện đảo này có diện tích khoảng 16.4km2  thuột tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết 120km về phía Đông Nam, đảo gồm một đảo chính và một số đảo nhỏ. Dân số toàn đảo khoảng 24.000 người, phân bố trong ba xã đảo.
II.2.2. Huyện đảo Côn Đảo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Quần đảo Côn Đảo gồm 16 đảo, là một huyện của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nằm cách Vũng Tàu 97 hải lý và cách sông Hậu 45 hải lý. Quồn đảo nay nằm ở tọa độ 106031’  – 106045’ độ kinh Đông, và 8034’ – 8049’  độ vĩ  Bắc, tổng diện tích quần đảo theo số liệu mới nhất là 80,2 km2 , lớn nhất là đảo Côn Lôn 51,32km2, bao quanh nó là 15 hòn đảo nhỏ, lớn nhất trong số các hòn đảo nhỏ đó là hòn Bảy Cạnh, bé nhất là Hòn Trứng nằm ở đầu phía đông – đông bắc đảo lớn. Cả quần đảo chỉ có đảo lớn Công Sơn và đảo Hòn Cau mới có những điều kiện cần và đủ cho con người cư trú. Hầu hết diện tích quần đảo là rừng núi (80%), nay là rừng quốc gia Côn Đảo. Địa hình bằng phẳng tập trung ở thung lũng hình bán nguyệt – dây cung là chân núi Chúa và núi Thánh Gía, đáy là cửa vịnh Côn Sơn dài khoảng trên dưới 8km, sâu trên dưới 2km, tọa độ 8040’57” vĩ Bắc –
106036’10” độ kinh Đông.

II.2.3 Huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang.
Phú Quốc hay còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất của Việt Nam, cũng là đảo lớn nhất trong tổng số 22 đảo tại đây, nằm tại vịnh Thái Lan. Đảo Phú Quốc cùng với các hòn đảo khác tạo thành huyện đảo Phú Quốc trực thuộc tỉnh Kiên Giang. Toàn thể quần đảo có tổng diện tích 589,23km (năm 2005), dân số hiện nay vào khoảng 79.800 người. Đảo Phú Quốc nằm cách thành phố Rạch Gía 120km và cách thị xã Hà Tiên 45km. Đảo bao gồm 8 xã và 5 thị trấn, trong đó lớn nhất là đảo Phú Quốc và Thổ Chu.
Đảo Phú Quốc có diện tích 567km2 , dài 49km, nơi rộng nhất là 25km ở phía bắc đảo, nơi hẹp nhất là 3km ở phía nam đảo. Địa hình cao nhất trên đảo lên tới 603m so với mặt nước biển, phần các vùng xung quanh có độ sâu trung bình chưa đến 10m, nhưng nơi sâu nhất cũng lên tới 60m.

Vùng Thổ Chu là một quần đảo được coi là cực Tây của tổ quốc, bao gồm 8 đảo, với tổng diện tích là 11km2 .  Dân số xã đảo hiện nay vào khoảng 5.500 dân, lớn nhất là đảo Thổ Chu. Quần đảo cách Mũi Cà Mau 80 hải lý, cách đảo Phú Quốc 115km về phía Tây, cách Côn Đảo khoảng 500km về phía tây nam.
II.2.4.  Huyện đảo Kiên Hải tỉnh Kiên Giang
Kiên Hải là một đảo của tỉnh Kien Giang, nằm ngoài khơi vùng biển Tây Nam. Huyện có 4 xã là Hòn Tre, Lại Sơn, An Sơn và Nam Du, diện tích khoảng 30km2, dân số vào khoảng 25.000 người. Trung tâm của huyện đảo là Xã Hòn Tre, cách thành phố Rạch Gía khoảng 30km.

III.VĂN HÓA SA HUỲNH
III.1. Qúa trình phát hiện
Văn hóa Sa Huỳnh là một trong ba nền văn hóa – văn minh thời đại Đồng - Sắt Việt Nam, phân bố theo chiều bắc nam từ tỉnh Quảng Bình đến lưu vực sông Đồng Nai, Tây – Đông từ miền núi – có thể là từ cao nguyên đến đồng bằng ven biển đặc biệt là trên các đảo và quần đảo trên biển Champa xưa , nay là biển đông của Việt Nam, gồm cả vịnh Thái Lan.[1]
Tên gọi văn hóa Sa Huỳnh được đặt theo tên một cách đồng nuối Sa Huỳnh, ở cửa sông Trà Bồng ( xã Phổ Thạch, Đức Phổ, Quảng Ngãi ). Năm 1909, A. Vinet – một học giả người Pháp đã thông báo ngắn gojn về việc phát hiện khu mộ chum khoảng 200 chiếc ở đây. Sau phát hiện của A. Vinet là cuộc khai quật của Larbar năm 1923, tìm thấy 240 chum mộ ở Long thạch, Thạch Đức và Phú Khương.
Năm 1934 Colani đào Long Thạch phát hiện 55 mộ chum, đào ở Phú Khương thấy 187 mộ chum.
Năm 1937 Colani là người đầu tiên đặt tên cho khu di tích mộ chum này là văn hóa Sa Huỳnh. Tiếp theo đó là những cuộc khai quạt của Jasee ( 1939), Malleret ( 1951 ), Sauein ( 1966 – 1973 ), Fontaine ( 1972 ), Hoàng Thị Thân ( 1973 )…
Sau năm 1975, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tiến hàn điều tra, khảo sát, thẩm định, phát hiện và khai quật các địa điển cũ và mới.Cho đến nay đã phát hiện khoảng 1.000 mộ chum có niên đại từ khoảng thế kỷ V TCN đến thế kỷ I – II SCN.[2]

III.2. Không gian phân bố
Văn hóa Sa Huỳnh nằm ở “ mặc tiến” của hệ thống văn hóa hậu kỳ đá mới – sơn kỳ kim khí : phía bắc là văn hóa Bàu Tró  phía sau lưng là văn hóa Lung Leng, Biển Hồ, Buôn Triết .Cực Nam là văn hóa Đồng Nai, phía trước mặt là biển Đông và những nền văn hóa trên các hải đảo Đông Nam Á.
Các di tích văn hóa Sa Huỳnh phân bố ở hầu khác các dạng điạ hình của các tỉnh miền Trung Việt Nam, từ vùng đồi gòn, cồn cát ven sông, ven biển, đến các đảo ở biển Đông, đặc biệt là các đảo gần bời. Tình thống nhất trong văn hóa Sa Huỳnh được thể hiện rõ trong cấu tạo di tích, táng thức và bộ di vật.
III.3. Một số di tích tiêu biểu
Quảng Nam : cụm di tích ở xã Hội An, di tích Lai Nhi ( huyện Điện Bàn), Bàu Trám, Phú Hòa, Tam Mỹ ( huyện Núi Thành), Quế Lộc, Bình Yên (Quế Sơn), Tiên Hà (huyện Tiên Phước)…cho tới nay, Quảng Nam là nơi có số lượng di tích văn hóa Sa Huỳnh phát hiện nhiều  nhất.
Quảng Ngãi : Sa Huỳnh, Phúc Khương, Thạch Đức, Long Thạch (huyện Đức Phổ), Bình Châu, Gòn Quê (huyện Bình Sơn), Cù Lao Ré, Trà Xuân (huyện Trà Bồng), Đồi Đông Tranh (huyện Sơn Tịnh)…
Bình Định : Thuận Đạo, Tránh Trạch, Động Cườm…
Phú Yên : rừng Lao Thủy, Suối Mây, Khen Ông Dậu…
Khánh Hòa : Hoà Diên, Diên Sơn, Phước Hải…
Ninh Thuận và Bình Thuận : Mỹ Tường, Bàu Hòe, Phú Tường …
Đồng Nai : Suối Chồn, Phú Hòa, Hàng Gòn, Dầu Giay…
TP. Hồ Chí Minh : Những di tích mộ chum tại khu vực Cần giờ…
Ngoài ra còn phát hiện được dấu tích văn hóa Sa Huỳnh ở một số khu vực khác trên đát liền và cả trên các hải đảo.

Đồ đá : Công cụ đá hiếm khi gặp trong các khu mộ táng của văn hóa Sa Huỳnh, ở những nơi cư trú, hiện vật đá thường được phát hiện với số lượng lớn hơn. Về loại hình, có rìu, bôn đá tứ giác và có vai, cội có vết sử dụng, bàn mài, chày nghiền…Việc vẫn còn xuất hiện các di vật bằng đá cho thấy trong thời đại đồ sắt các công cụ bằng  đá vẫn còn được sử dụng, nhưng vai trò của chúng trong đời sống cư dân đã bị tiêu giảm.
Đồ sắt: Trong văn hóa Sa Huỳnh bộ công cụ và vũ khí bằng sắt là nổi bật  nhất, chúng chiến lĩnh những địa điểm văn hóa Sa Huỳnh về số lượng và chất lượng cũng tốt hơn nhiều.
Đồ sắt được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp rèn , nó cũng phản ánh trình độ của những người thợ sản xuất. Số lượng công cụ bằng sắt đã phát hiện được cho đến nay đã lên đến hàng trăm chiếc, gồm rựa, dao ngắn, giáo, mai, liềm, kiếm ngắn… Về nguồn gốc của nghề luyện kim, trong một số địa điểm đã tìm thấy dấu tích của rèn sắt và luyện gam tại chỗ, ở Định Cườm (Bình Định), Diên Sơn (Khánh Hòa),…
Đồ đồng : So với đồ sắt thì đồ đồng ít hơn nhiều về số lượng. Chúng được tìm thấy ở các khu mộ táng văn hóa Sa Huỳnh, cả mộ chum và mộ đất. Về nguồn gốc, phần lớn các đồ tùy táng này có thể là sản phẩm của việc trao đổi với bên ngoài, với văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đồng Nai,hay với văn hóa Hán (Trung Quốc)…
Đồ gốm : Gốm được sử dụng rộng rãi và gồm nhiều loại hình với mục đích sử dụng khác nhau. Bao gồm :
Chum hình trụ có vai hoặc không vai, đây là loại chum phổ biến nhất, phát hiện ở nhiều địa điểm như Tam Mỹ, Đại Lãnh, Quế Lộc, Bình Yên, Gò Dừa…Nắp đậy thường có hình nón cụt, cao trung bình dưới 1m, đường kính thân từ 0,4m đến 0,6m, thân trang trí văn thừng.

Chum hình chứng: Là loại chum có miệng loe, không có vai, phần bụng hơi phình,đáy thuôn tròn nhọn, thân và đáy trang trí văn thừng. Xương gốm thô, pha nhiều cát, gốm cứng. Thường có kích thức lớn, tìm thấy ở các địa điểm Gò Mả Vôi, Hậu Xá, Tam Mỹ, Long Thạch..
Chum hình Cầu: Miệng loe, cổ thắt, đáy hình chỏm cầu, có dáng thấp hoặc dáng cao. Than thường trang trí văn thừng hoặc văn chải đến đáy, thường có kích thước lớn, pháp hiện ở Tam Mỹ, Hậu Xá, Gò Mả Vôi, Xóm Ôc… thường đi cùng với nắp đậy, hình lồng bàn hay nắp đậy hình mâm bồng
Đồ tùy táng : Đồ tùy táng rất đa dạng và phong phú bao gồm bát bồng, đèn, bình hình lãng hoa, cốc cao chân, nồi …Chất liệu gốm từ thô đến hơi thô, pha nhiều cát. Gốm được trang trí đẹp với những họa tiết hoa văn đa dạng, khác vạch kết hợp với tô màu, in mép sò. Tôn màu đên hoặc màu đỏ thành từng băng uốn lượn hay góc cạnh,.. trở thành phương pháp trang trí phổ biến.
Đổ trang sức : Cư dân văn hóa Sa Huỳnh là những người có năng khiếu. khóe tay …họ thích dùng đồ trang sức (Vòng, nhẫn, khuyên tai, hạt chuỗi…) làm bằng thủy tinh, mã não, đá quý, đất nung… Chất liệu được yêu thích nhất là mã não và thủy tinh. Khuyên tai ( hay bùa đeo) hai đầu thú và khuyên tai ba mấu là một loại hình chế phẩm Sa Huỳnh đặc thù. Trong các di tích văn hóa Sa Huỳnh đã tìm thấy một số lượng lớn hai loại hình này. Hạt chuỗi, khuyên tai bằng vàng, hạt chuỗi thủy tinh mạ vàng cũng được người Sa Huỳnh sử dụng và chon theo mộ. Những loại hình đồ trang sức quý này được xác định là nhập từ bên ngoài.
III. 4 Đặc trưng di tích
Di tích mộ táng : đây là loại hình di tích được phát hiện và nhiêu cứu nhiều nhất. Trên địa bàn phân bố của văn hóa Sa Huỳnh từ các gòn đồi phía tây đến đồng bằng ven biển và hải đảo phía đông, đã phát hiện nhiều khu mộ - những bãi mộ chum rộng lớn, với loại hình vò, hình cầu, hình trứng,hình trụ, có kích thước vừa và lớn.
Đây là những khu mộ độc lập, những bãi chum mộ lớn, chon trên sường cồn cát, đồi gòn ven sông,trên những phần đất cao. Thông thường những chum mộ được tìm thấy ở dạng phân bố theo nhóm từ 2, 3 đến 4 chum. Tuy nhiên ở một số khu mộ địa cũng thấy phân bố đơn kiểu ô bàn cờ.[3] Những chum mộ quan tài gốm chon đứng thẳng, có nắp đậy hình nón cụt, hình lòng bàn, mâm bồng … Một số mộ có vết tích than tro rất dày ở bền ngoài, có thể là vết đốt sưởi mộ, mộ số chum được kè đá hay gốm dưới đáy.
Di tích cư trú: Phát hiện được rất ít vết tích cư trú của văn hóa Sa Huỳnh. Những di tích cư trú thường nằm không xa khu mộ địa, thường là ở bậc thềm thấp hơn, sát các con sông hay suối. Cũng bởi thế mà nhiều di tích cư trú đã bị mất đi do hiện tượng lũ lụt hay sụt lở bờ sông. Các di vật trong nơi cư trú không khác nhiều so với di vật tùy táng nhưng có phần không đa dạng và phong phú bằng.
Di tích cư trú kết hợp mộ táng : Tại một số khu vực, đặc biệt là khu vực Nam Sa Huỳnh, giây đoạn muộn, mộ thường chôn vào nơi cư trú như ở Xóm Ôc, Hòa Diên, Cần Gio…
IV.QUÁ TRÌNH PHÁT HIỆN, VÀ NGHIÊN CỨU CÁC DI TÍCH VĂN HÓA SA HUỲNH TRÊN CÁC QUẦN ĐẢO PHÍA NAM VIỆT NAM
IV.1. Các di tích trên huyện đảo Phú Qúy
Địa điểm Cao Cát xã Long Hải
Hầu hết phát hiện là các mạnh gốm xương đanh cứng, gốm mỏng, màu đỏ gạch xám không hoa văn. Đây có thể là di chỉ cư trú hoặc di tích mộ vò.
Hầu hết các di tích trên đảo Phú Qúy đều là di tích cồn cát, bên cạnh những hồ nước ngọt, tầm văn hóa dài từ 30cm – 40cm.  Các di tích này đều mang đặc trưng di chỉ cư trú văn hóa Sa Huỳnh[4].

IV.2.Các di tích trên quần đảo Côn Đảo
Địa điểm Bến Đầm :
Năm 1959, Malleret đã phát hiện 06 công cụ đá mài ở khu vực này. Đây là khu vực sường đồi đất bên vịnh, tầng văn hóa cấu tạo từ đất đồi, chứa đồ gốm cổ mật độ thưa.

Địa điểm Hàng Dương I :
Là khu vược cao của nghĩa trang Hàng Dương hiện nay, được E.Sauren phát hiện năm 1964. Đến năm 1978, nhà khảo cổ học Diệp Đình Hoa – Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - ĐHQGHN) điều tra khảo sát ngắn ngày. Năm 1999 và 2000 các nhà khảo cổ học của Viện Khảo Cổ đã thám sát lần hai. Đây là di chỉ cồn cát có diện tích phân bố rộng.
Địa điểm Nhà Máy Nước I : Phân bố trên dải cồn cát ven chân núi Thánh Gía, đối diện với chân dốc Ma Thiên Lãnh
Địa điểm Nhà Máy Nước III : Cùng nằm trên dải cồn cát vên núi bên bàu hay hồQuang Trung, cách Nhà Máy Nước I và II khoảng 300m về phía Tây Nam, cách địa điểm Cồn Miều Bà khoẳng 300m về phía Tây Bắc.
Địa điểm Cồ Miền Bà :
Địa điểm này được Gs. Trần Quốc Vượng phát hiện năm 1997. Sau được thám sát thêm hai lần nữa vào các năm 1999 và 2001, được đặt tên theo An Sơn Miếu ở cạnh đó, và tên chính thức là Cồn Miều Bà. Đây là địa điểm cồn cát rộng tới 10.000m2  trên một cồn cát đầu phía Tây Nam hồ Quang Trung – thuộc thi trấn Côn Đảo. Cồn cát cao 5m, cách vịnh Côn Sơn khoẳng 800m – 900m về phía Tây Bắc
Địa điểm Cồn Hải Đăng :
Đây là khu nghĩa địa mộ vò của cư dân cổ Côn Đảo phân bố ở sường Tây Nam dải cồn cát, gần vịnh Côn Sơn nhất trong hệ thống các cồn các thung lũng Côn Đảo, ở tọa độ 8040’717’ vĩ độ Bắc 106056’604” kinh độ Đông, cách bờ vịnh Côn Sơn chừng 200m ( hiện giờ nằm trong khuôn viên Trung Tâm Văn hóa Thể thao huyện Côn Đảo).
Địa điển Cồn An Hải :
Là di chỉ cư trú công cát, diên tích ước tính khoẳng 6000m- 7000m2, tại ngã ba đường Hoàng Quốc Việt bên bờ hồ An Hải, thị trấn Côn Đảo ở tọa độ 8040’839” độ vĩ năm 1995Bắc - 106035’861” kinh độ Đông, cách vịnh Côn Sơn hiên nay khoẳng 250km  về phía Tây Tây Bắc, vị trí này nằm giữa hai địa điểm hay hai khu mộ vò Cồn Hải Đăng và Cồn Miến Bà.
Địa điểm Hòn Cau :
Đây là di chỉ cư trú trên đảo Hòn Cau, hòn đảo rộng 1,8km2. Có bãi cát rộng từ 3ha – 4ha là nơi phân bố di chỉ Hòn Cau nổi tiếng bên vịnh Hòn Cau quay mặt về phía Tây Nam .Địa điểm này được Viên Khỏa Cổ Học phát hiện vào tháng 12.
IV.3. Các di tích trên Huyện đảo Phú Quốc
Địa điểm Bãi Ngự xã đảo ThổChu.
Được viện Khảo cổ phát hiện tháng 12/1995. Nhiều mảnh  vỏ ốc tai tượng kích thước khá to, đã pha chế để là công cụ và đồ trang sức.
Địa điểm Bãi Mu- Bãi Dong xã đảo Thổ Chu
Được phát hiện cùng thời gian với Bãi Ngự. Phía đông bắc Bãi Dong là một khu nghĩa địa mộ chum – vò, phần còn lại có thể là địa điểm cư trú.
Địa điểm trên đảo Phú Quốc
Phát hiện nhiều công cụ sản xuất như rìu bôn răng trâu, một vài hạt chuỗi, mảnh khuyên tai, hòn thổ hoàng…
IV.4. Các di tích trên huyện đảo Kiên Hải
Di tích trên đảo Hòn Tre
Phát hiện năm 1988, do dân địa phương, gồm 3 mộ chum lớn giống chum vò Sa
Huỳnh.
Di tích trên xã đảo Lại Sơn
Hòn Mấu: Trong đó có một chiếc giáo sắt phát hiện tại địa điểm Nhà máy nước số 2. Đục đồng phát hiện tại Hòn Cau, đục nhỏ thân hẹp ngang, gãy chuôi, thân có gờ ở rìa cạnh, lưỡi rìu hình cung, hơi xòe và rất sắc.
Đồ trang sức: hạt chuỗi bằng thủy tinh hình tròn dẹt, hạt chuỗi đá đen vân trắng, hình bầu dục có lỗ xuyên dây dọc , cả hai được phát hiện tại khu vược Nhà Máy Nước số 2. Ba mẫu khuyên tai hình con đỉa bằng gốm.Tuy nhiên chưa phát hiện khuyên tai bố mấu, ba mấu và hai đầu thú bằng đá hay bằng thủy tinh như ở trong đất liền.

V.ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA SA HUỲNH XUẤT HIỆN TRÊN CÁC ĐẢO MIỀN NAM
Đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh trên các đảo và quần đảo vùng biển phía Nam Việt Nam được thể hiện chủ yếu qua di vật.
V.1.Mộ chum
Đặc trưng di tích mộ táng là mộ chum ( hình trứng)  nhưng chư yếu là mộ vò, mộ bình vò có lớp áo thổ hoàng, không có nắp đậy hoặc có nắp đậy hình lồng bàn, dạng chậu, bát bồng, và hình đĩa, mộ chôn theo từng cụm, có nhiều đồ tùy táng, các mộ không có di cốt.
Trên huyện đảo Phú Qúy : Tại địa điểm Cao Cát xã Long Hải, Phú Qúy đã phát hiện mộ vò, có đường kính khoảng hơn 50cm, có nắp đậy, bên trong có 3 công cụ đá mài toàn thân. Vòng cổ thấp, miệng loe, đáy tròn.
Trên huyện đảo Phú Quốc : Tháng 12 năm 1995 phát hiện mộ chum bãi Dong gồm 1 chum đáy nhọn bị đập vỡ phần trên, phủ màu thổ hoàng đỏ nâu, cao 40cm rộng 47,5cm có thể là chum hình trứng. Ngoài ra, cạnh chum là một vò lớn, cũng có hình dạng chum hình trứng, đáy tròn, gốm đen, xương đen, đường kính miệng 26cm, thân nở tròn điều. Bên trong có lớp áo thổ  hoàng mùa đỏ, bên trong vò có chứa hai niêu, một bát chân cao có vài lỗ thủng  Tấ cả các nồi niêu đều có phủ thổ hoàng, văn ấn khía.[5]
Huyện đảo Kiên Hải: Tại điểm núi đảo Hòn Tre – Kiên Hải có hai chiếc chum ( được ghi trong sách Gia Định Thành thông trí– 1820, Trịnh Hoài Đức), một chiếc lớn cao xấp xỉ 100cm nhưng đã vỡ, một chiếc còn nguyên vẹ, để tại bảo tàng Kiên Giang. Năm 1988 Anh Võ VănTâm phát hiện được hai chiếc chum mộ, hiện còn nguyên, một tại Bảo tàng Kiên Giang, một tại nhà anh Nguyễn Văn Chánh, Chủ tịnh Hội chũ thập đỏ huyện Hòn Tre. Xương gồm sét pha cát, phủ lớp áo thổ hoàng đỏ nâu, Chum hình trứng, đáy lồi nhỏ đập vỡ một lỗ thủng  nhỏ bên cạnh đáy và một lỗ ở giữa đáy, xương dày 0,6 – 1,2cm , chum cao 63cm, miệng có đường kính 28,7cm thân phì rộng, eo cổ rộng 27cm.
Đó là những đặc trưng táng tục và táng thức Sa Huỳnh trên đất liền miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ[6].
Như vậy, mộ chum của văn hóa Sa Huỳnh đã xuất hiện trên các đảo ngoài khơi vùng biển phía Nam
V.2.Đồ sắt và đồ đồng
Nhóm di vật từ chất liệu đồ sắt và đồng tồn tại khá phổ biến trong các di chỉ cư trú và địa điểm mộ táng hải đảo vùng biển Phiá Nam, tuy nhiên chúng mới tồn tại ở số lượng ít.
Huyện đảo Côn Đảo : có các đia điểm như Hòn Cau, Hàng Dương, Cồn Cây Đa, Cồn Miếu Bà… Trên huyện đảo Kiên Hải: có các địa điểm như  đảo Lại Sơn, đảo Hòn Mấu
Trong đó có một chiếc giáo sắt phát hiện tại địa điểm Nhà máy nước số 2. Đục đồng phát hiện tại Hòn Cau, đục nhỏ thân hẹp ngang, gãy chuôi, thân có gờ ở rìa cạnh, lưỡi rìu hình cung, hơi xòe và rất sắc.
Việc phát hiện được các di vật với chất liệu sắt, đồng đã làm rõ, thời gian tồn tại trùm nhau của các di tích văn hóa trên các đảo với các di tích văn hóa Sa Huỳnh trên đất liền.
V.3.Đồ trang sức
Trên Côn Đảo: hạt chuỗi bằng thủy tinh hình tròn dẹt, hạt chuỗi đá đen vân trắng, hình bầu dục có lỗ xuyên dây dọc, cả hai được phát hiện tại khu vược Nhà Máy Nước số 2. Ba mẫu khuyên tai hình con đỉa bằng gốm. Tuy nhiên chưa phát hiện khuyên tai bố mấu, ba mấu và hai đầu thú bằng đá hay bằng thủy tinh như ở trong đất liền.
Các loại hình đồ trang sức được tím thấy trên các đảo cũng là những loại hình đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh trên đất liền.
V.4. Đồ gốm
Đa số là những mạnh vỡ của các mộ vò, hay đồ dùng. Gốm chiếm phần lớn các di vật đã phát hiện trên các đảo, có tính thống nhất cao về chất liệu và kiểu dáng.
Trên đảo Phú Qúy
Gốm có màu xám, đỏ gạch, xương mỏng điều, cứng đanh, đất làm gốm mịn, luyện lọc kỹ, xương pha ít cát, độnung khá cao, mặt ngoài để trơ không có hoa văn.
Gốm Côn Đảo – Phú Quốc – Kiêng Hải
Đồ gốm trên các đảo này có những đặc điểm rất giống nhau, hay có chung một đặc trưng:
Hai loại gốm xám và gốm đỏ chiếm số lượng lớn hơn trên tất cả các đảo. Gốm xám thường là những nồi, vòng, bát, bồng, …Gốm đỏ có lớp áo thổ hoàng nâu hay đỏ da cam ở cả hai mặt . Được làm hầu hết bằng chất liệu là đất sét pha cát.ngoài ra còn có những loại khác nhưng không phổ biến nhiều trong các di tích.
Tính thống nhất về chất liệu , kiểu dáng, loại hình trang trí… phản ánh một  truyền thống kỹ thuật cao, ổn định và lâu dài từ các nền văn hóa trên đất liền, trong đó có văn hóa Sa Huỳnh.
V.5. Đặc trưng phân bố
Sự phân bố của các di tích trên một không gian rộng lớn, là toàn bộ các đảo và quần đảo vùng biển Phía Nam Việt Nam, phân bốn trên các bãi cát, cồn cát ven biển, bên cạnh những bầu suối nước ngọt, có hai địa điểm là Bến Đầm (Côn Đảo) và Âp 3 (Hòn Tre) cư trú trên sường núi đảo. Sự  phân bố này giống với rất giống với đặt trưng phân bố của văn hóa Sa Huỳnh trên đất liền, như các di tích Phú Hòa, Dầu Giay, (Xuân Lộc, Đồng Nai). Ngoài ra trên các địa điểm phân bố thường có dấu hiệu của sự quần tụ dân cư, như ” Có những ngôi làng biển rộng trên dưới 10.000m2[7] ,  như ở Hòn Cau, Hàng Dương, - Nhà Máy Nước (Côn Đảo) hay Bãi Ngự (Thổ Chu). Đây cũng là một điểm giống nhau nữa giữa các di tích văn hóa Sa Huỳnh trên hải đảo và đất liền.

VI. Kết Luận.
Trước đây, các học giả Pháp cho rằng chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh là những người đi biển, đất liền chỉ là nơi dừng chân và chôn cấp người chết mà thôi, nhưng dựa trên các dấu tích và những nguồn tư liệu đã khai thác ở trên chúng tôi không đồng ý với ý kiến này mà chúng tôi ủng hộ tác giả Nguyễn Trung Chiến và cộng sự rằng đã tồn tại một nền văn hóa Sa Huỳnh biển trên các đảo và quần đảo vùng biển phía Nam Việt Nam, nhưng chúng tôi có bỏ sung thêm ràng nền văn hóa trên biển đảo đó có nguồn gốc từ nền văn hóa Sa Huỳnh trên đất liền và thuộc giai đoạn sớm của văn hóa Sa Huỳnh, vì giai đoạn tồn tại của các di tích văn hóa Sa Huỳnh trên các đảo và quần đảo đã nói ở trên có niên đại muộn hơn những dấu tích của nền văn hóa này đã phát hiện trên đất liền và các dấu tích mộ táng chủ yếu là mộ chum hình trứng, đặc điểm này đã được chứng minh và thừa nhận thuộc nền văn hóa tiền Sa Huỳnh. Ngoài ra các khảo cứu văn hóa Sa Huỳnh thực địa trên các đảo và quần đảo của các nhà khảo cổ học chúng tôi đã nêu ở trên cũng đã chứng minh cho thực tế là phát hiện được rất ít các công cụ, đồ dùng sinh hoạt bằng sắt, điều này phù hợp với thời tiền Sa Huỳnh khi công cụ bằng sắt được phát hiện rất ít.
Từ đó chúng tôi đi đến nhận định chủ nhân của loại hình văn hóa Sa Huỳnh biển trên các đảo và quần đảo miền Nam Việt Nam là từ một nhóm cư dân Sa Huỳnh sinh sống trên đất liền chuyên đi biển và sinh sống bằng cách khai thác các nguồn lợi hải sản từ biển cả. Sau những lần đi biển họ đánh bắt ngày càng xa bờ và lâu ngày hơn, có thể lúc đầu họ chỉ dừng chân lại trên các đảo nhỏ, gần bờ sau một thời gian họ quay trở lại đất liền. Khi tiến xa hơn,họ tới những vùng biển mới gặp những đảo lớn, có đủ điều kiện cho sinh hoạt và sản xuất và nước ngọt họ đã định cư lâu hơn ở đó và dần dần họ định cư lâu dài trên các đảo đó, tiến hành sản xuất vàkhai thác biển cả, ổn định đời sống. Khi những nguồn lợi trên đảo không còn đủ cung ứng cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất nữa thì họ tiếp tục những cuộc hình trình đi biển để đánh bắt hải sản và tìm những vùng đảo mới, hay trong những lần đi biển họ gặp những vùng đảo mới có đủ điều kiện, phù hợp với nhu cầu của họ thì chuyển đến sinh sống ở những nơi mới đó.Tại những nơi mà họ đã đến sinh sống, họ đen các tri thức sản xuất và sinh hoạt từ đất liền lên đảo, khi dời khỏi những nơi ở cũ đi tìm những đảo mới thì họ để lại các dấu tích sinh hoạt và cư trú, mộ táng..Những dấu tích này chính là nguồn cung cấp các di tích và di vật cho việc nghiên cứu sau này.
Như vậy các dấu tích đã phát hiện trên các đảo và quần đảo vùng biển miền Nam Việt Nam không những đã cung cấp nguồn tư liệu thực chứng minh rõ rằng sự tồn tại đầu tiên của nền văn hóa Tiền Sa Huỳnh trên các đảo và hải đảo vùng biển phía nam này mà còn làm sáng tỏ nguồn gốc đất liền của nền văn hóa biển đó. Hơn thế nữa, sự lam tỏa nền văn hóa Sa Huỳnh có nguồn gốc đất liền và lịch sự hình thành từ rất sớm này lên các đảo và quần đảo trên biển đã khả định những cư dân của nền văn hóa này chính là chủ nhân đầu tiên đã chinh phục và chiến lĩnh các đảo và hải đảo trên vùng biển này.







PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Vinh, Văn hóa tiền sử Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Sài Gòn 2011.
2. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2000.

3. Nguyễn Trung Chiến (chủ biên), Khảo cổ học thời tiền – sơ sử trên các hải đảo vùng biển miền Nam Việt Nam.

4. Nguyễn Lâm Cường, Cổ nhân học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004.

5. Lâm Thị Mỹ Dung, Về “ Tiền Sa Huỳnh ở Trung Bộ Việt Nam”. Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004.

6. Phạm Tuấn Đấu – Phạm Võ Thanh Hà, Các nền văn hóa khảo cổ tiêu biểu ở Việt Nam, Nxb Văn hóa - thông tin, 2010.


7. Hán Văn Khẩn (chủ biên), Cơ sở khảo cổ học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 2011.

8. Chử Văn Tần, “Văn hóa Sa Huỳnh – Nhìn lại mười thập kỷ phát hiện và nghiên cứu” Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004

9. Lê Bá Thảo, Địa lí Việt Nam và các vùng lãnh thổ, Hà Nội, 1997.

10. Lê Bá Thảo, Thiên Nhiên Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001.

11. Những nền văn hóa  cổ trên lãnh thổ Việt Nam, Nhóm tri thức trẻ, Nxb Lao động, HN 2013.

Vàng A cử
K57 – Lịch sử
Đại Học KHXH&NV – ĐHQGHN







[1]Ts Nguyễn Trung Chiến, Viện Khảo Cổ Học 2011.Khảo cổ học thời tiền – sơ sử trên các hải đảo vùng biển miền nam Việt Nam
[2] PGS.TS Hoàng Văn Khoán.2004.Sơn Kỳ Thời Đại Đồ Sắt Thế giớ Và Việt Nam
[3] Hán Văn Khẩn (chủ biên)2011.Cơ Sở Khảo Cổ Học
[4]. Nguyễn Trung Chiến (chủ biên), Khảo cổ học thời tiền – sơ sử trên các hải đảo vùng biển miền Nam Việt Nam,2011,tr.56

[5]Nguyễn Trung Chiến – Lại Văn Tới, 1996, tr30 – 31.

[6]Nguyễn Trung Chiến (chủ biên), Khảo cổ học thời tiền – sơ sử trên các hải đảo vùng biển miền Nam Việt Nam,
2011, tr217

[7] Nguyễn Trung Chiến (chủ biên), Khảo cổ học thời tiền – sơ sử trên các hải đảo vùng biển miền Nam Việt Nam,2011,tr216.

PHONG TRÀO PHẬT GIÁO MIỀN NAM VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU VỤ TỰ THIÊU CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỨC

PHONG TRÀO PHẬT GIÁO MIỀN NAM
VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU VỤ TỰ THIÊU
CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỨC[1]
Lý Viết Trường
Phật giáo đã du nhập vào nước ta vài nghìn năm và có những đóng góp đáng kể cho đất nước trên các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội, dựng nước và giữ nước. Trên thực tế Phật giáo đã có đóng góp lớn vào cuộc kháng chiến chống Pháp và nhất là chống Mỹ. Các phong trào đấu tranh của Phật tử nổ ra với nhiều hình thức phong phú và đa dạng, đáng quan tâm nhất là vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức[2] ngày 11/06/1963[3].
1.     Phong trào phật giáo miền Nam dưới thời Ngô Đình Diệm
Từ những năm 1960 trở đi chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức khủng bố Phật giáo khiến quần chúng nhân dân bất bình.
Ngày 20/02/1962, Giới lãnh đạo Phật giáo đã gửi kháng thư đến Ngô Đình Diệm để “Bày tỏ sự khủng bố, áp bức bất công với Phật giáo là không thể kể xiết… Tình trạng giết chóc, bắt bớ, đàn áp bất công ở hạ tầng đã gây nên hoang mang, khủng khiếp trong hàng Phật tử chúng tôi và làm cho họ gần như mất hết tư tưởng cần thiết…”[4].
Cuộc kháng chiến chống Mỹ từ đầu năm 1963 gặp nhiều khó khăn do địch đẩy mạnh tiến độ xây dựng “Ấp chiến lược” và tiến hành các cuộc hành quân chống phá cơ sở cách mạng ác liệt.
Phật giáo là một trong những mục tiêu chống phá của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Trong lúc tình hình diễn biến ngày càng xấu đi trên chiến trường Miền Nam thì xảy ra một sự kiện kéo dài suốt bốn tháng và được báo chí gọi là “Bốn mươi ngày nóng bỏng” ở các đô thị lớn, đó là xung đột giữa chính quyền Diệm với Phật giáo và học sinh. Sự kiện diễn ra đầu tiên ở cố đô Huế, nơi có trên 400 ngôi chùa.
Ngày 07/05/1963, Ngô Đình Cẩn cho lính và cảnh sát đi truyền lệnh cấm treo cờ theo công điện số 9195. Cờ phật là biểu tượng thiêng liêng của phật, nơi nào có cờ phật treo đồng nghĩa với nơi đó có chùa có chiền, có đất phật. Ngô Đình Diệm cho cấm treo cờ đã gây bất bình lớn trong dân chúng và dẫn đến cuộc biểu tình của 5000 người, đi đầu là hội chủ Tổng hội Phật giáo Miền nam, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, kéo lên Dinh tỉnh trưởng đấu tranh thắng lợi.
Ngày 08/05/1963, do Ngô Đình Cẩn cấm không cho truyền thanh như thường lệ vì vậy một hòa thượng đã đứng lên kêu gọi “Tuy phật tử chúng ta không chủ trương bạo động, nhưng chúng ta sẵn sàng chết vì tín ngưỡng, nếu cần”[5]. Chính phủ Diệm cho nổ súng, cho xe thiết giáp rượt theo quần chúng gây ra cái chết bi thương cho gần 30 người.
 Ngày 09/05/1963, Chính phủ Diệm bóp méo thông tin cho là quần chúng biểu tình và dương cao khẩu ngữ:  “Đả đảo hành động sát nhân, vu khống, hãy giết chúng tôi đi, máu đã chảy, chúng tôi sẵn sang đổ máu…” cướp đài phát thanh và số người chết là do lựu đạn từ đám biểu tình nhưng hãng UPI (12/05) để lộ một chi tiết “Thi thể những người bị sát hại tại Huế hầu hết bị pháo bắn thẳng cắt đứt đôi”[6].
Ngày 11/05/1963, lệnh giới nghiêm được phát ra ở Huế, tín đồ bị truy lùng, Chùa Từ Đàm bị xe tăng, thiết giáp bao vây. Ngày 12/05/1963, Diệm cấm không cho Phật tử Sài Gòn cầu siêu cho những người bị sát hại ở Huế. Tổng hội Phật giáo ban bố bản cáo trạng lên án Diệm tàn sát Phật tử. Ngày 21/05/1963, Tổng hội Phật giáo tổ chức cầu siêu ở 17 tỉnh, đông nhất là chùa Đàm (Huế) với 5000 người. Tại Sài Gòn có 600 nhà sư biểu tình trong im lặng từ chùa Ấn Quang đến chùa Xá Lợi. Diệm ra lệnh giới nghiêm trong thành phố. Ngày 29/05/1963, Diệm ra chỉ thị, trấn an công chức về vụ xung đột giữa chính quyền và phật giáo. Ngày 30/05/1963, Tăng ni, phật tử và sinh viên Sài Gòn tuyệt thực trong 48 giờ để phản đối luận điểm sai trái của Diệm. Chùa Từ Đàm ở Huế bị cảnh sát bao vây và cắt điện nước. Ngày 31/05/1963, cuộc biểu tình tiếp tục trước trụ sở quốc hội. Hội sinh viên gửi kiến nghị lên chính quyền phản đối chính sách khủng bố Phật giáo. Ngày 03/06/1963, hơn 1200 sinh viên, thanh niên Phật tử biểu tình rồi bị khủng bố bằng lựu đạn, chất bỏng, hơi cay... làm 125 người bị thương, hơn 100 người bị bắt, 2 người chết, trong đó có Tổng thư ký hội sinh viên Phật tử. Ngày 04/06/1963, phật tử  tiếp tục biểu tình, Diệm lập Ủy ban liên bộ để nghiên cứu giải quyết vấn đề Phật giáo. Ngày 10/06/1963, Nhà trắng đánh tiếng ủng hộ Diệm trong vụ xung đột với Phật giáo. Hãng UPI nhận xét “Sự ủng hộ đó có thể làm mất hình ảnh của Mỹ trong mắt nhân dân Việt Nam”.
Ngày 11/06/1963, tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu – Cách mạng tháng tám), trước sự chứng kiến của chừng 1000 tăng ni, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cổ phong trào đấu tranh của các giáo dân và những người yêu hòa bình.
Sau đó di hài Hòa thượng được bọc trong áo cà sa và mang về chùa Xá Lợi, chùa Xá Lợi bị phong tỏa mọi tin tức.
Ngày 12/06/1963 Ủy ban Trung ương mặt trận giải phóng Miền Nam Việt Nam làm lễ truy điệu trọng thể Hòa thượng Thích Quảng Đức.
Vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức đã thể hiện một tinh thần tử vì đạo, sẵn sang hi sinh vì giáo lý nhà Phật đồng thời sự kiện này cũng đã gây nên làn sóng dư luận và có sức lan tỏa mạnh mẽ đối với các bên tham gia vào cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam. Vụ đàn áp này đã góp phần làm cho chính quyền Ngô Đình Diệm bị lung lay và việc Diệm bị lật đổ là không thể tránh khỏi.
Phản ứng của chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam
Ngày 06/06/1963 Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện khẩn đến Đại sứ R.Goburdhun với nội dung “… Bộ tổng tư lệnh quân đội Nhân dân Việt Nam nghiêm khắc lên án và cực lực phản đối hành động dã man của chính quyền Ngô Đình Diệm…” và yêu cầu Diệm “Chấm dứt mọi hành động khủng bố thanh niên, sinh viên và nhân dân Huế… chấm dứt chia rẽ tôn giáo, đàn áp Phật giáo…”. Mặt trận Dân tộc giải phóng Trung Trung Bộ tuyên bố “Lòng căm thù của đồng bào Phật giáo âm ỉ từ lâu, nay bốc thành ngọn lửa đấu tranh… Ủy ban kêu gọi đồng bào các tầng lớp, các tôn giáo, các dân tộc ở Nam trung bộ hãy ra sức cùng đồng bào cả nước làm hậu hương cho cuộc đấu tranh này”[7]. Đảng cộng sản đưa ra khẩu hiệu với nội dung “Đả đảo Mỹ - Diệm càn quét, khủng bố tàn sát đồng bào Miền Nam, đàn áp Phật giáo”[8]. Ngày 02/07/1963 khi đưa vào Miền Nam “Đả đảo Mỹ - Diệm càn quét, khủng bố, rải chất độc hóa học, dồn dân lập ấp chiến lược, đàn áp tín đồ Phật giáo, tàn sát đồng bào Miền Nam”[9]. Ngày 14/05/1963 Ủy ban trung ương mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam đã đưa ra những thông báo tuyên bố “Chống Mỹ - Diệm khủng bố Phật giáo, kêu gọi đồng bào cả nước ủng hộ Phật giáo”[10].
Ngày 12/06/1963 Tại khu giải phóng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền nam Việt Nam tổ chức truy điệu trọng thể. Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ đọc bài điếu.
Khi vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức diễn ra từ Hà Nội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trang trọng công bố trên đài phát thanh và báo chí hai câu đối kính viếng hòa thượng Thích Quảng Đức:
Vị pháp thiêu thân vạn cổ hùng uy thiên nhật nguyệt
Lưu danh bất tử bách niên chính khí địa sơn hà.
Lời dịch của Phan Duy Nhân.
Vì pháp thiêu thân, muôn thuở hùng uy trời nhật nguyệt
Lưu danh bất tử, trăm năm chính khí đất sơn hà.
Khắp các thành phố, thị xã và vùng nông thôn miền Bắc, từ Lạng Sơn đến Vĩnh Linh, đều tổ chức mít - tinh ghi nhớ công đức Hòa thượng và lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Ngày 22/08/1963 Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ra tuyên bố “Điều quan trọng nhất hiện nay là tín đồ Phật giáo cũng như nhân dân các đô thị kiên quyết giữ vững tinh thần, giữ vững đội ngũ, giữ vững đấu tranh…với ý chí đó ta sẽ làm cho Mỹ - Diệm bị thất bại nhục nhã”[11].
Trong những ngày 29/05, 15/06, ngày 28/08/1963 Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Tội ác của chúng, trời đất không thể dung. Hành động hung tàn của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều phản đối, nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình” và kêu gọi “Đồng bào Miền Nam ta đoàn kết nhất trí, không phân biệt sĩ, nông, công, thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo kiên quyết đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng”[12].
Phản ứng của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Sau khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, làn sóng ủng hộ Phật giáo và căm phẫn chính quyền Ngô Đình Diệm lan rộng ra khắp miền Nam.
Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Ảnh Malcolm Browne
Ngay ngày hôm đó (11/06/1963) đúng 19 giờ Tổng thống Ngô Đình Diệm đọc một bài diễn văn trên sóng phát thanh rằng ông "hết sức lo ngại" về vụ việc và khẩn khoản kêu gọi "đồng bào bình tâm". Ông cũng thông báo rằng tiến trình đàm phán đang tiến triển tốt. Ông Diệm cho biết chính tình hình tôn giáo căng thẳng như thế này đã làm nổi bật vai trò của thuyết nhân cách trong Thiên chúa giáo đối với các luật lệ của ông. Ngô Đình Diệm còn cho rằng những người có tư tưởng cực đoan đã bóp méo sự thật và khẳng định rằng các Phật tử có thể: "tin tưởng vào Hiến pháp, hay nói cách khác là tin tưởng ở tôi". Ngày 14/06/1963 Diệm chuẩn bị đối phó với cuộc hỏa táng Diệm đã triệu tập hội đồng tướng lĩnh và ra thông cáo “Ủng hộ Diệm trong cuộc xung đột với Phật giáo…”. Ngày 15/06/1963 Hơn 5000 quân đội và cảnh sát đổ ra đường, đặt hàng rào kẽm gai khắp nơi trong thành phố với kế sách “Việt Cộng mang hàng ngàn trái lựu đạn vào đây để gây rối vụ hỏa táng…”. Ngày 16/06/1963 Cảnh sát nổ súng, ném lựu đạn vào quần chúng. Kết quả 12 cảnh sát bị thương, 251 người biểu tình bị bắt. Cùng ngày chừng 300 tăng ni biểu tình trước đại sứ quán Mỹ phản đối Diệm đàn áp Phật giáo, tuy nhiên dư luận cho hay CIA đã thâm nhập vào đội ngũ lãnh đạo Phật giáo nên việc hỏa táng bị hoãn. Ngày 16/06/1963 được coi là dấu chấm hết của “Bốn mươi ngày nóng bỏng”.
Từ Vatican, Đức Giáo hoàng Phao Lồ đệ lục gửi thông điệp yêu cầu Diệm tôn trọng tự do tôn giáo nhưng những thông điệp trên bị chính quyền Diệm ngăn cấm, không cho phổ biến và phong trào đấu tranh lại càng bùng lớn hơn với 6 cuộc tự thiêu nối theo: Đại đức Thích Nguyên Hương (Bình Thuận), Đại đức Thích Thanh Tuệ (Quảng Trị), Ni cô Thích Nữ Diệu Quang (Ninh Hòa), Thượng tọa Thích Thiện Huệ (Thừa Thiên – Huế), Đại đức Thích Quảng Hương (Sài Gòn), Đại đức Thích Thiện Mỹ (Sài Gòn). Nữ sinh Mai Tuyết An chặt đứt tay mình tại chùa Xá Lợi để chống chế độ Diệm và nữ sinh Quách Thị Trang 15 tuổi bị cánh sát Diệm bắn chết trước chợ Bến Thành.
Do ảnh hưởng của vụ tự thiêu nên Ngô Đình Diệm miễn cưỡng hòa hoãn và tổ chức cuộc họp kéo dài 3 ngày từ 14/6 - 16/6 tại Hội Trường Diên Hồng giữa Ủy Ban Liên Bộ do Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cầm đầu và Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo và Bản Thông Cáo Chung ra đời với chữ ký (Khán) của Hòa Thượng Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Thích Tịnh Khiết và Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong đó có những điểm chính như sau:
-   Tách hiệp hội có tính các tôn giáo ra khỏi Dụ Số 10.
-   Chính phủ sẽ lập một Ban Điều Tra để xét lại các hồ sơ khiếu nại của Phật Giáo.
-   Tất cả những ai có liên quan đến cuộc vận động thực hiện 5 nguyện vọng của Tổng Hội Phật Giáo đề ra bất luận ở đâu sẽ được Tổng Thống đặc biệt khoan hồng.
-   Chính phủ sẽ xác nhận lệnh sửa sai đã ban ra cho các cán bộ để thực thi chính sách bình đẳng tôn giáo của chính phủ.
-   Những cán bộ có trách nhiệm về các vụ xảy ra từ ngày 8/5/1963 bất kỳ thuộc thành phần nào cũng sẽ bị nghiêm trị, nếu cuộc điều tra đang tiến hành chứng tỏ lỗi của họ.
-   Các gia đình nạn nhân ở Huế đã được trợ giúp kịp thời và có thể được trợ giúp thêm tùy theo gia cảnh từng người.
Làn sóng đấu tranh bất khuất dâng cao cho đến ngày chế độ Diệm bị lật đổ hoàn toàn bởi Hội đồng quân nhân do tướng Dương Văn Minh đứng đầu.
Ngày 24/08/1963 Chính phủ Mỹ nói thẳng với Diệm rằng Hoa Kỳ yêu cầu chính quyền Sài Gòn gạt bỏ vợ chồng Nhu “Đó là biện pháp tốt nhất để khắc phục những sai lầm với Phật giáo”.
Sự kiện tự thiêu là đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng liên quan đến phật giáo tại miền Nam Việt Nam vào năm 1963. Biến cố này là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc đảo chính lật đổ chính quyền của tổng thống Ngô Đình Diệm.
Dư luận quốc tế
Ngay ngày đó (11/06/1963) nhiều tờ nổi tiếng thế giới như Washington Post (Mỹ), Le Monde (Pháp), La Gezette de Lausanne hoặc Journal de Genève (Thụy Sĩ), cũng như dư luận và các tổ chức tôn giáo tại các quốc gia có người theo đạo Phật như Ấn Độ, Nhật Bản, Miến Điện (Myanmar), Tích Lan (Sri Lanka), Thái Lan, Nam Hàn (Hàn Quốc), Campuchia, Lào... đều lên tiếng chỉ trích Diệm - Nhu[13].
Từ Vatican, Đức Giáo hoàng Phao Lồ đệ lục gửi thông điệp đến Việt Nam biểu lộ “sự chú tâm, đau đớn khi theo dõi các biến cố bi thảm đang giày vò người dân Việt, cầu nguyện để tất cả mọi người tái lập tình tương thân huynh đệ và tôn trọng các quyền tự do chân chính”.        
Tại Campuchia, Thủ Tướng đã bày tỏ thiện cảm với Phật Giáo Việt Nam. Thái Lan các báo chí tại Vọng Các đều đăng tải các tin tức liên quan đến những biến cố ở Huế. Trung Hoa Quốc Gia, rồi Lời Hiệu Triệu của Ô. Hội Trưởng Hội Phật Giáo Thế Giới tại Ngưỡng Quang, Miến Điện, Nhật Bản, Ấn Độ, Ai Lao, Đại Hàn, Indonesia, Hongkong.
Tại Hoa Kỳ, báo News and World Report viết như sau “Người Mỹ ở Sài Gòn cho biết cuộc sinh sự với các nhà lãnh đạo Phật Giáo của Ô. Diệm là một lỗi lầm tệ hại nhất từ xưa tới nay…khiến cho vai trò của Hoa Kỳ tại Miền Nam Việt Nam lâm vào tình trạng khốn quẫn”. Rồi tới các báo chí ở Thụy Sĩ, Anh Quốc, Úc Đại Lợi, Pháp. Riêng tờ Neak Cheat Niyum ra ngày 30/6/1963 trong bài xã luận nhan đề “Bước Đường Cùng Của Sự Dối Gạt” đã viết “Ông Ngô Đình Diệm với những anh em ông ta và người em dâu bất khả xa lìa, đã dùng hai tuần lễ cuối cùng để chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu tới, những người cuồng tín nhất trong bọn đã nhận được vũ khí và tất cả phải tức khắc ra tay trước khi Phật Giáo đồ thực hiện chủ trương tạo một Thánh Barthelemy như của Gia Tô Giáo. Nói riêng thì tập đoàn này không thể vì cớ gì lùi bước được nữa vì chúng tôi lượm được những tin này tại các trung tâm Gia Tô Giáo người Âu ở Nam Việt Nam”. Tại Bruxelles (Bỉ) Linh Mục Pire- người đoạt giải Nobel về hòa bình, gửi Ô. U Thant- Tổng Thư Ký một bức thư yêu cầu ông gấp rút mở cuộc điều tra tại chỗ để làm sáng tỏ vấn đề. Tờ Washington Post viết “Phật Giáo đồ khắp Á Châu sẽ có cảm tưởng rằng dù sao Hoa Kỳ cũng dung túng sự kỳ thị tôn giáo. Đó là một cảm nghĩ sai lầm, nhưng trót là bạn của một chế độ độc tài, áp bức nên Hoa Kỳ dù sao cũng bị ảnh hưởng”. Tờ New York Times số ra ngày 19/6/1963 viết “Tình hình ở Sài Gòn đã đến giai đoạn giống hệt như những ngày cuối cùng của Ô. Lý Thừa Vãn tại Hán Thành”. Tờ Sunday Examiner của Thiên Chúa Giáo xuất bản ở Hongkong viết “Mong rằng những người tuy khác đạo giáo nhưng phải tôn trọng giá trị về tôn thờ đạo giáo của họ, và đó là tinh thần bình đẳng tự do con người”. Nữu Ước UPI “Trong khi chính phủ đang cần sự tin tưởng của dân chúng hơn bao giờ hết thì chính phủ lại đang mất sự ủng hộ của tín đồ Phật Giáo chiếm ba phần tư tổng số dân chúng tại Miền Nam Việt Nam”. Ngày 19/7/1963 hãng tin này lại đưa tiếp “Hôm Thứ Năm, Thượng Nghị Sĩ Wayne L. Morse nói rằng ông sẽ không đồng ý cho một đô-la nào nữa để ủng hộ cho một chế độ độc ác tàn bạo của TT. Ngô Đình Diệm tại Miền Nam Việt Nam”. Tờ Christian Science Monitor trong bài “Sự Đau Khổ Tại Miền Nam Việt Nam” đã viết “Chế độ gia đình trị của TT. Ngô Đình Diệm đang tự đào hố chôn mình”.
Ngày 4/9/1963, phái đoàn Liên Hợp Quốc với 14 nước đã đưa vấn đề Phật giáo Việt Nam Cộng Hòa ra trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc với nội dung cáo buộc chính quyền Việt Nam vi phạm các nguyên tắc của hiến chương Liên Hiệp Quốc.      
Ngày 4/10/1963, Việt Nam Cộng hoà gửi thư lên Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc mời một phái đoàn sang Việt Nam điều tra về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. Cuối tháng 10, Liên Hiệp Quốc cử phái đoàn gồm 16 thành viên đại diện 7 quốc gia sang Afghanistan (trưởng phái đoàn), Brazil, Ceylon, Costa Rica, Dahomey, Morroco vaf Nepal sang Việt Nam điều tra tìm hiểu sự thật. Cuộc điều tra kết thúc khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị đảo chính.
Phái đoàn Liên Hiệp Quốc đã phỏng vấn nhiều người bao gồm các quan chức Việt Nam Cộng hòa, các lãnh đạo Phật giáo. Tuy nhiên, không có giáo sĩ Công giáo hoặc thường dân nào được mời tham gia trong việc điều tra.
Tuy nhiên, một số kết luận điều tra đã bị phản bác bởi bác sĩ người Ðức Erich Wulff, nhân chứng của vụ nổ súng ở Huế. Ông kể: "Chúng tôi nghe khoảng 10 phát súng nổ kêu vang và khô khan... Tôi có thể nhìn thấy rõ ràng đầu ngọn lửa phát ra từ họng súng của hai chiếc xe án ngự nơi bồn tròn nằm phía đầu cầu Tràng Tiền. Sau tiếng súng là một chập im lặng… Từng nhóm từ mười đến hai mươi người vung tay lên bày tỏ sự bất bình của mình. Ðúng vào lúc đó một loạt súng trường bắt đầu nhả đạn. Một chiếc thiết giáp bắt đầu tìm cách phân tán những đám nhỏ này. Thiếu tá Sỹ lệnh cho chúng tôi phải rời đi, ông ta là một người Kito quá khích và là người thân tín của Tổng giám mục Thục”. Ông cho biết những nạn nhân có những vết thương nghiêm trọng do đạn bắn chứ không phải như Đặng Sỹ nói:Dưới ánh sáng yếu ớt của đèn bạch lạp, chúng tôi thấy có bảy thân người đầy máu me được đặt trên ba bàn khám nghiệm bằng đá. Từ chân đến ngực thân thể họ còn nguyên vẹn. Nhưng năm cái xác – tất cả là trẻ em – thì không còn đầu.Nơi một người phụ nữ thì có những vết đạn bắn vào cánh tay, vai và cổ. Các xe thiết giáp đã bắn nát đầu các em thiếu nhi, có lẽ vào lúc các em leo qua hàng rào của đài phát thanh và nhô đầu ra phía trước”. Những lời tường thuật đầu tiên này được ghi lại chỉ không đầy một giờ đồng hồ sau biến cố; đã được dùng làm bằng cớ vào tháng 9 năm 1963 trước Ủy ban Việt Nam của Liên Hiệp quốc, kèm theo với lời khai danh dự chứng thật nguyên bản của Giáo sư Krainick.
Chính quyền Ngô Đình Diệm cũng bác bỏ các lời buộc tội. Tuy nhiên, năm 1964, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị đảo chính, tòa án quân sự đã bắt Mathew Đặng Sỹ và kết án tử hình với các tội danh: bắn vào đám đông không vũ trang, dùng xe bọc thép cán người biểu tình, và sử dụng chất nổ nguy hiểm để kiểm soát đám đông. Đặng Sỹ vẫn tuyên bố mình vô tội, ông biện hộ rằng việc ra lệnh phóng 3 quả lựu đạn MK3A2 vào đám đông là để “Giúp giải tán nhanh đoàn người, bảo vệ họ khỏi các cuộc tấn công có thể có của Việt Cộng”. Lời bào chữa này khiến hàng ngàn xếp hàng trên đường phố rất tức giận và la ó phản đối dữ dội. Đối mặt với tình trạng bất ổn nội bộ, Nguyễn Khánh xá tội chết nhưng kết án Đặng Sỹ phải vào trại lao động khổ sai, cùng với các khoản bồi thường cho các gia đình nạn nhân.
Dư luận quốc tế, những người yêu chuộng hòa bình đã góp phần vào việc ủng hộ và ngăn chặn những hành động tàn ác của chính phủ Diệm, đồng thời nhân dân thế giới, báo chí cũng là cơ quan ngôn luận giúp vạch tội chính quyền Diệm – Nhu.
Dư luận trong và ngoài nước ngày càng căm phẫn chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Cuộc tranh đấu thần thánh của Phật giáo Việt Nam đã góp một phần không nhỏ vào cuộc đảo chính ngày 01/11/1963, của quân đội Việt Nam Cộng Hòa lật đổ cường quyền họ Ngô. Phật giáo đã tô đậm nét vàng son hào hùng vào trang lịch sử dân tộc. Cuộc tranh đấu của phật giáo từ ngày 08/05/1963 tới ngày 11/06/1963 đã mở một kỷ nguyên mới cho phật giáo Việt Nam: Kỷ nguyên của tranh đấu bất bạo động mà chiến thắng được cường quyền. Vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức có ảnh hưởng to lớn đến cuộc kháng chiến chống Mỹ và phong trào giải phóng miền Nam sau này.

Tài liệu tham khảo
1.                 Báo nhân dân năm 1963.
2.                 Bộ quốc phòng Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Cứu nước 1954 – 1975, Tập III, Đánh thắng chiến tranh đặc biệt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
3.                 William Colby, Một chiến thắng bị bỏ lỡ, Nxb Công an nhân dân, 2007.
4.                 Lê Cung, Phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ 1954 – 1975, Nxb Bản Thuận Hóa, Huế, 2001.
5.                 Lê Cung, Phong trào Phật giáo Miền Nam Việt Nam năm 1963, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999.
6.                 Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, Tập II, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1966.
7.                 Các trang: http://www.phatviet.com. http://www.baomoi.com, http://chuaphuclam.com. http://sachhiem.net. http://www.lichsuvietnam.vn. http://vi.wikipedia.org. http://www.quangduc.com. http://www.quangduc.com.
8.                 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đảng toàn tập, Tập 24, Năm 1963, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
9.                 Học viện chính trị quốc gia, Viện lịch sử đảng, Lịch sử biên niên xứ ủy Nam Bộ và trung ương cục Miền Nam Việt Nam (1954 – 1975). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
10.            Bùi Thị Thu Hà, Phật giáo hòa hảo tri thức cơ bản, Nxb Từ điển bách khoa, 2012.
11.            Lê Mạnh Thát, Bồ tát Quảng Đức ngọn lửa và trái tim, Nhà Xuất Bản Tổng Hợp Tp.HCM 2005.
12.            Trần Trọng Trung, Nhà Trắng với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
13.            Nguyễn Đăng vinh, Lê Ngọc Tú,  Biên niên sự kiện chiến tranh Việt Nam 1945 – 1975, Nxb Lao động, 2011.
14.            Nguyễn Đăng Vinh, Đặng Lê Thùy, Lê Ngọc Tú, Việt Nam 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ tổ quốc 1945 – 1975 biên niên sự kiện, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà nội, 2005.
15.             Ủy ban khoa học Xã hội Việt Nam, Viện sử học, Việt Nam những sự kiện 1945 – 1975, Tập I, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1975.

Lý Viết Trường – K57 Lịch sử
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn -
Đại học Quốc gia Hà Nội
SĐT: 01636.302.985 Số CMTND: 082254943




[1] Bài đã đăng trên tạp chí Xưa & Nay số 438, trang 21 – 25.
[2] Thích Quảng Đức (1897 – 1963), nguyên tên là Lâm Văn Tuất, quê làng Hội Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Song thân ông là cụ Lâm Hữu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương là một gia đình có truyền thống tín ngưỡng đạo Phật. Năm lên 7 tuổi, ông vào tu tại chùa của cậu ruột là Hòa thượng Hoằng Thâm, năm 15 tuổi thọ Sa di, năm 20 tuổi Tì kheo, có pháp danh là Thị Thủy, Pháp tự là Hành Pháp hiệu là Thích Quảng Đức. Năm 1932, nhân An Nam Phật học hội ra đời, ông được mời làm Chứng minh Đạo sư tại chi hội Phật học Ninh Hòa, rồi lãnh chức Kiểm tăng của Giáo hội tỉnh Khánh Hòa. Năm 1943, ông vào miền Nam hóa đạo khắp các tỉnh: Sài Gòn, Gia Định, Bà Rịa, Định Tường. Ngôi chùa cuối cùng ông trụ trì là chùa Quán Thế Âm. Năm 1953, ông giữ chức Trưởng ban Nghi lễ của giáo hội Tăng già Nam Việt kiêm trụ trì chùa Phước Hòa, rồi chùa Quán Thế Âm. Ngày 11/06/1963 trong cuộc tuần hành của trên 1000 vị tăng sĩ và giới lãnh đạo Giáo hội Phật giáo miền Nam cùng một số đông đảo đồng bào yêu nước chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, ông phát nguyện tự thiêu đòi bình đẳng tôn giáo chống đàn áp Phật giáo và đòi dân sinh, dân chủ.
[3] Xem thêm bài Tinh thần vô vị ngã của “Bồ tát” Quảng Đức qua lời nguyện tâm quyết và kệ thiêu thân cúng dường của Nguyễn Công Lý trên Xưa & Nay số 430, tháng 06/2013.
[4] Hồ sơ gửi Tổng thống và Quốc hội Phật giáo trung phần ngày 20/02/1962. Thư viện học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1968. Tr.2, Tr.3.
[5] Trần Trọng Trung, Nhà Trắng với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005. Tr.389.
[6] Trần Trọng Trung, sdd. Tr.389.
[7] Báo Nhân dân, ngày 13/06/1963, Tr.4.
[8] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đảng toàn tập, tập 24.
[9] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đảng toàn tập, tập 24.
[10] Biên Niên sự kiện chiến tranh Việt Nam 1945 – 1975.
[11] Tuyên bố của MTDTGPMNVN ngày 22/08/1963. Tuần báo thống nhất, Số 323, ngày 30/08/1963, Tr.3.
[12] Báo Quân đội Nhân Dân, ngày 29/08/1963, Tr.1.
[13] Tại Hoa Kỳ, báo News and World Report viết như sau “Người Mỹ ở Sài Gòn cho biết cuộc sinh sự với các nhà lãnh đạo Phật Giáo của Ô. Diệm là một lỗi lầm tệ hại nhất từ xưa tới nay…khiến cho vai trò của Hoa Kỳ tại Miền Nam Việt Nam lâm vào tình trạng khốn quẫn”.
Rồi tới các báo chí ở Thụy Sĩ, Anh Quốc, Úc Đại Lợi, Pháp.
Riêng tờ Neak Cheat Niyum ra ngày 30/6/1963 trong bài xã luận nhan đề “Bước Đường Cùng Của Sự Dối Gạt” đã viết “Ông Ngô Đình Diệm với những anh em ông ta và người em dâu bất khả xa lìa, đã dùng hai tuần lễ cuối cùng để chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu tới, những người cuồng tín nhất trong bọn đã nhận được vũ khí và tất cả phải tức khắc ra tay trước khi Phật Giáo đồ thực hiện chủ trương tạo một Thánh Barthelemy như của Gia Tô Giáo. Nói riêng thì tập đoàn này không thể vì cớ gì lùi bước được nữa vì chúng tôi lượm được những tin này tại các trung tâm Gia Tô Giáo người Âu ở Nam Việt Nam”.
Tại Bruxelles (Bỉ) Linh Mục Pire- người đoạt giải Nobel về hòa bình, gửi Ô. U Thant- Tổng Thư Ký một bức thư yêu cầu ông gấp rút mở cuộc điều tra tại chỗ để làm sáng tỏ vấn đề.
Tờ Washington Post viết “Phật Giáo đồ khắp Á Châu sẽ có cảm tưởng rằng dù sao Hoa Kỳ cũng dung túng sự kỳ thị tôn giáo. Đó là một cảm nghĩ sai lầm, nhưng trót là bạn của một chế độ độc tài, áp bức nên Hoa Kỳ dù sao cũng bị ảnh hưởng”.
Tờ New York Times số ra ngày 19/6/1963 viết “Tình hình ở Sài Gòn đã đến giai đoạn giống hệt như những ngày cuối cùng của Ô. Lý Thừa Vãn tại Hán Thành”.
Tờ Sunday Examiner của Thiên Chúa Giáo xuất bản ở Hongkong viết “Mong rằng những người tuy khác đạo giáo nhưng phải tôn trọng giá trị về tôn thờ đạo giáo của họ, và đó là tinh thần bình đẳng tự do con người”.
Nữu Ước UPI “Trong khi chính phủ đang cần sự tin tưởng của dân chúng hơn bao giờ hết thì chính phủ lại đang mất sự ủng hộ của tín đồ Phật Giáo chiếm ba phần tư tổng số dân chúng tại Miền Nam Việt Nam”.
UPI Hoa Thịnh Đốn ngày 19/7/1963 đưa tin “Hôm Thứ Năm, Thượng Nghị Sĩ Wayne L. Morse nói rằng ông sẽ không đồng ý cho một đô-la nào nữa để ủng hộ cho một chế độ độc ác tàn bạo của TT. Ngô Đình Diệm tại Miền Nam Việt Nam”.
Tờ Christian Science Monitor trong bài “Sự Đau Khổ Tại Miền Nam Việt Nam” đã viết “Chế độ gia đình trị của TT. Ngô Đình Diệm đang tự đào hố chôn mình”.